VIETRRO Logo
🇬🇧 EN
Tài khoản

KẾT LUẬN 51: TỪ BẢO HỘ QUYỀN SHTT ĐẾN KIẾN TẠO NGUỒN LỰC PHÁT TRIỀN QUỐC GIA.

Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, khi xác định sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo hộ quyền mà còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
KẾT LUẬN 51: TỪ BẢO HỘ QUYỀN SHTT ĐẾN KIẾN TẠO NGUỒN LỰC PHÁT TRIỀN QUỐC GIA.

Kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, khi xác định sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo hộ quyền mà còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Xung quanh những định hướng mới này, Pháp luật và Tác quyền đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch SB Law.

z7953034827708_ee7a644f1080eeb845dcaef497c2be9b.jpg Luật sư Lê Thanh Hà tại buổi talkshow về nội dụng bảo vệ tài sản vô hình của doanh nghiệp trong chương trình KỶ NGUYÊN QUYỀN của VNA media.

PV: Thưa ông, Kết luận số 51-KL/TW xác định sở hữu trí tuệ là nguồn lực phát triển quốc gia, không chỉ là công cụ bảo hộ quyền. Theo ông, tư duy mới này sẽ tạo ra thay đổi gì trong việc xây dựng chính sách, đặc biệt với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa và kinh tế số?

LS: Khi Việt Nam thay đổi tư duy, nhìn nhận sở hữu trí tuệ không chỉ là một công cụ bảo hộ mang quyền mà là một nguồn lực chiến lược, một loại tài sản quốc gia, cách chúng ta làm chính sách sẽ thay đổi hoàn toàn theo hướng kiến tạo hệ sinh thái. Sự thay đổi này sẽ tạo ra những bước ngoặt rất lớn, đặc biệt là trong công việc văn hóa và kinh tế số.

Thứ nhất là đối với kinh tế số:

Trước đây, tư duy quản lý thường đi sau để xử lý vi phạm. Nhưng với tư duy mới, chính sách sẽ tập trung vào việc tạo hành lang pháp lý linh hoạt và đồng bộ để thích ứng với tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ số và công nghiệp sáng tạo. Tôi có thể nêu ra một ví dụ cụ thể như sau:

Khi một kỹ sư Việt Nam phát triển một mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng tự động tạo bản dịch hoặc vẽ tranh dựa trên dữ liệu lớn (Big Data). Theo tư duy cũ, cơ quan quản lý sẽ lúng túng trong việc xác định ai là chủ sở hữu quyền tác giả, dữ liệu đầu vào có vi phạm bản quyền hay không.

Nhưng với tư duy kiến tạo của Kết luận 51, hệ thống pháp luật sẽ khẩn trương rà soát, bổ sung các quy định rõ ràng về quyền tài sản số, cơ chế bảo vệ quyền trên không gian mạng và các giải pháp xử lý vấn đề phát sinh từ AI. Điều này giúp doanh nghiệp công nghệ yên tâm đầu tư, huy động vốn bằng chính thuật toán hay kho dữ liệu của mình mà không sợ rủi ro pháp lý.

Thứ hai là đối với ngành công nghiệp văn hóa:

Ngành này tồn tại và phát triển được bằng việc sử dụng chất xám và sự sáng tạo. Việc chuyển dịch từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái sẽ giúp giá trị của sự sáng tạo được định giá đúng và thương mại hóa mạnh mẽ hơn.

Một đoàn làm phim tư nhân tại TP.HCM đầu tư hàng chục tỷ đồng để sản xuất một bộ phim điện ảnh chất lượng cao. Nếu như trước đây, khi phim vừa ra rạp đã bị livestream lậu trên mạng xã hội, việc xử lý hành chính mất rất nhiều thời gian và mức phạt không đủ răn đe.

Thay đổi tư duy theo Kết luận 51 có nghĩa là chúng ta sẽ xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo trong toàn xã hội, đồng thời nâng cao hiệu lực thực thi với các chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn rất nhiều, tăng cường năng lực cho các tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ với cơ chế tài phán chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Khi bản quyền được bảo vệ nghiêm và cơ chế định giá tài sản trí tuệ hoàn thiện , nhà sản xuất có thể dễ dàng mang quyền sở hữu bộ phim đó đi thế chấp ngân hàng để vay vốn làm dự án tiếp theo.

Tóm lại, sự thay đổi tư duy này biến sở hữu trí tuệ từ một công cụ bảo hộ quyền thành một đòn bẩy kinh tế, giúp các doanh nghiệp công nghệ số và các nhà sáng tạo nội dung văn hóa có thể làm giàu chính đáng từ tài sản trí tuệ của mình.

PV: Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thiện pháp luật để thích ứng với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tài sản số. Trong khi AI đang sử dụng khối lượng lớn tác phẩm để huấn luyện mô hình, theo ông, đâu là ranh giới pháp lý giữa đổi mới sáng tạo và xâm phạm bản quyền?

LS: Đây là một bài toán pháp lý vô cùng phức tạp và khó không chỉ ở Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt. Dưới góc độ luật sư, ranh giới pháp lý giữa đổi mới sáng tạo (sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI) và xâm phạm bản quyền (đạo nhái, sử dụng trái phép tác phẩm) nằm ở các vấn đề sau:

Thứ nhất: Về mục đích sử dụng và Bản chất của việc "học máy"

Nếu việc sử dụng dữ liệu chỉ nhằm phân tích xu hướng, học hỏi cấu trúc ngữ pháp, phong cách vẽ để AI tự tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới, không sao chép nguyên văn bản gốc, thì đây được coi là khai thác dữ liệu hợp pháp phục vụ nghiên cứu.

Nếu mô hình AI sao chép nguyên vẹn hoặc chỉ xào xáo lại từ các tác phẩm có bản quyền để tạo ra sản phẩm phái sinh cạnh tranh trực tiếp với tác phẩm gốc (ví dụ: yêu cầu AI viết tiếp một cuốn truyện với giọng văn và nhân vật y hệt tác giả đang bán sách trên thị trường) mà chưa có sự đồng ý, đó là xâm phạm.

Thứ hai: Về vấn đề thương mại hóa và lợi ích cộng đồng.

Nếu việc dùng tác phẩm huấn luyện AI nhằm phục vụ mục đích phi thương mại, nghiên cứu khoa học thuần túy, nó nằm trong vùng an toàn tương tự như nguyên tắc "Sử dụng hợp lý" - Fair Use. Nhưng khi hệ thống AI đó được thương mại hóa, thu phí người dùng, ranh giới buộc phải dịch chuyển sang hướng bảo hộ tác quyền: nhà phát triển AI phải chia sẻ lợi ích hoặc trả tiền bản quyền cho kho dữ liệu đầu vào của chủ sở hữu tác phẩm.

Để vạch rõ ranh giới này, hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới có thể cân nhắc áp dụng các cơ chế tiên tiến để giải quyết vấn đề này.

Luật hóa quyền của các nhà sáng tạo nội dung. Các tác giả có quyền gắn một "nhãn số" vào tác phẩm của mình trên mạng internet để tuyên bố: “Tôi không cho phép AI dùng tác phẩm này để huấn luyện”. Nếu công ty AI cố tình quét dữ liệu này, đó là vi phạm pháp luật.

Giống như cách các quán cà phê trả tiền cho các tổ chức đại diện quyền tác giả, quyền liên quan, Việt Nam có thể thành lập các tổ chức đại diện quyền để các công ty công nghệ trả một khoản phí trọn gói. Khoản tiền này sẽ được phân phối lại cho các nhà văn, họa sĩ, nhà báo dựa trên tỷ lệ AI sử dụng dữ liệu của họ.

Luật cần bắt buộc các doanh nghiệp phát triển AI phải công khai danh mục các nguồn dữ liệu, tác phẩm được sử dụng để huấn luyện mô hình. Chỉ khi có sự minh bạch, các tác giả mới biết quyền lợi của mình có bị xâm phạm hay không để kích hoạt cơ chế bảo vệ.

Ranh giới này không phải là một biện pháp để hạn chế AI, mà là một phương pháp điều tiết và giúp mở đường cho đổi mới sáng tạo phát triển, vừa đảm bảo quyền lợi cốt lõi cho những người trực tiếp tạo ra tri thức.

z7988021855449_3e7255c5c12eaaa3587af0f470f2a07b.jpg Luật sư Lê Thanh Hà tại buổi talkshow trên sóng VTV4 của ĐTH Việt Nam về sở hữu trí tuệ cho bà con kiều bào.

PV: Thời gian qua, nhiều tranh luận nảy sinh quanh việc thu tiền bản quyền âm nhạc tại quán cà phê, nhà hàng, phòng gym hay việc sử dụng nội dung trên các nền tảng số. Theo ông, đâu là điểm mấu chốt để vừa bảo vệ quyền của tác giả, vừa tránh tạo cảm giác “thu phí bằng mọi giá” trong xã hội?

LS: Những tranh luận trái chiều về việc thu tiền bản quyền âm nhạc tại các cơ sở kinh doanh hay trên nền tảng số thời gian qua chủ yếu xuất phát từ cách thức triển khai chưa thực sự thuyết phục, khiến dư luận dễ phản ứng.

Nhìn từ góc độ pháp lý và định hướng tại Kết luận số 51-KL/TW, điểm mấu chốt để giải quyết hài hòa xung đột này nằm ở việc thực hiện đúng nguyên tắc: bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với yêu cầu phổ cập tri thức, phát triển khoa học, công nghệ và lợi ích chung của xã hội.

Để tránh cảm giác thu phí bằng mọi giá, chúng ta cần thay đổi căn bản ba điểm sau:

Thứ nhất: Cần minh bạch hóa và cơ chế định giá hợp lý

Sự phản ứng của xã hội thường không nằm ở việc phải trả tiền, mà ở câu hỏi: Tiền thu dựa trên cơ sở nào và sẽ đi về đâu?

Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ một cách khoa học. Việc thu phí không thể cào bằng mà phải phân loại rõ ràng mục đích sử dụng và xác định rõ phạm vi ủy quyền để thu. Một đơn vị tập thể đại diện quyền tác giả thì không thể thu thêm phí cho quyền của nhạc công, cho những chủ thể của quyền liên quan.

Một quán cà phê nhỏ ở góc phố mở nhạc từ một danh sách phát ngẫu nhiên trên ứng dụng trực tuyến để tạo không gian không thể bị đánh đồng mức phí với một quán bar, phòng gym lớn bật nhạc sôi động để giữ chân khách hàng và trực tiếp tăng doanh thu.

Khi các tổ chức đại diện quản lý quyền đưa ra một bảng giá minh bạch, có căn cứ chứng minh dòng tiền thu được sẽ phân phối chính xác đến tay các nhạc sĩ, ca sĩ chứ không bị thất thoát, người dân và chủ doanh nghiệp sẽ tự nguyện hợp tác.

Thứ hai: Cần áp dụng công nghệ để đơn giản hóa quy trình

Thay vì cử nhân sự đi kiểm tra, ghi nhận thủ công rồi đòi phạt, các bên liên quan nên hợp tác để phát triển các giải pháp công nghệ số. Cơ quan quản lý bản quyền có thể phối hợp với các nền tảng phát nhạc trực tuyến phổ biến để tạo ra các gói tài khoản dành riêng cho doanh nghiệp (Business Account). Chủ quán cà phê hay phòng gym chỉ cần đăng ký gói này với chi phí hợp lý được tích hợp sẵn tiền bản quyền. Hệ thống máy tính sẽ tự động thống kê bài hát nào được bật bao nhiêu lần và chia tiền trực tiếp cho tác giả. Quy trình này vừa chuyên nghiệp, vừa không tạo cảm giác tận thu hay ép buộc.

Thứ ba: Cần xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo song hành với lợi ích công cộng

Chúng ta phải kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền nhằm xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo trong toàn xã hội. Bản chất của việc trả phí âm nhạc là để nuôi dưỡng và tái tạo sức sáng tạo của nghệ sĩ, giúp họ tiếp tục cống hiến.

Ngược lại, việc thực thi quyền cũng không được cực đoan đến mức bóp nghẹt các hoạt động cộng đồng, phi thương mại hoặc quyền tiếp cận văn hóa cơ bản của người dân. Sự cân bằng này sẽ giúp pháp luật về sở hữu trí tuệ thực sự đi vào đời sống một cách tự nhiên và văn minh.

z7974740493848_df68d683c5b82a4b874a966d5db7a77d.jpg Chuỗi talkshow mang tên KỶ NGUYÊN QUYỀN, một chương trình khá hấp dẫn với nội dung xoay quanh việc làm thế nào để cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng tác phẩm tiêp cận tác phẩm một cách hợp pháp và minh bạch.

PV: Kết luận 51 yêu cầu tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số. Theo ông, “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay nằm ở khung pháp lý, năng lực thực thi hay ý thức tuân thủ của xã hội? Nếu phải ưu tiên một giải pháp để tạo chuyển biến ngay, ông sẽ chọn điều gì?

LS: Dưới góc nhìn của một luật sư bản quyền, tôi cho rằng cả ba yếu tố gồm khung pháp lý, năng lực thực thi và ý thức xã hội đều đang có những nút thắt riêng. Tuy nhiên, nếu phải chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất và mang tính quyết định hiện nay trên môi trường số, tôi cho rằng năng lực thực thi bằng công nghệ của các cơ quan chức năng là điểm nghẽn lớn nhất.’

Ý thức của người dân và doanh nghiệp đang tăng lên rõ rệt khi chúng ta hội nhập sâu rộng, dù hành vi dùng phần mềm bẻ khóa hay xem phim lậu vẫn còn tồn tại. Nhưng ý thức xã hội là câu chuyện dài hạn, muốn thay đổi phải dựa trên một môi trường pháp lý nghiêm minh, nơi mà các vị phạm trong đó có vi phạm bản quyền đều bị xử lý nghiêm.

Luật của chúng ta liên tục được rà soát, sửa đổi để tương thích với các chuẩn mực quốc tế tiên tiến, nhưng luật luôn có một độ trễ nhất định so với sự phát triển của công nghệ như AI, dữ liệu lớn hay tài sản số.

Chính vì vậy, khi luật đã có và ý thức đang chuyển biến, nhưng hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số vẫn diễn ra tinh vi, ẩn danh và xuyên biên giới, thì năng lực thực thi chính là yếu tố quan trọng nhất.

Hiện tại, quy trình phát hiện, thu thập chứng cứ số và xử lý vi phạm của chúng ta còn khá thủ công, mất nhiều thời gian, trong khi vi phạm trên mạng chỉ cần một cú nhấp chuột là đã phát tán đi khắp nơi.

Vì vậy, việc chúng ta có lộ trình để xây dựng trung tâm bảo vệ và giám sát bản quỳên số quốc gia có ứng dụng công nghệ cao trong đó có AI là rất cần thiết.

Giải pháp này trực tiếp giải quyết bài toán năng lực thực thi và phối hợp liên ngành mà Kết luận 51 đã chỉ ra.

Thay vì xử lý bằng các biện pháp hành chính giấy tờ, chúng ta dùng công nghệ để quản lý công nghệ:

Khi giải bóng đá ngoại hạng hoặc một bộ phim điện ảnh vừa phát sóng bị một trang web lậu phát lậu trực tuyến. Nếu theo quy trình cũ, chủ sở hữu quyền phải lập vi bằng, gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng, chờ thẩm định và ra quyết định xử phạt thì trận đấu hoặc vòng đời thương mại của bộ phim đã kết thúc từ lâu.

Với Trung tâm giám sát nêu trên, hệ thống quét dữ liệu tự động (chạy bằng AI) sẽ phát hiện luồng phát lậu trong vòng vài phút, tự động xác định địa chỉ IP và kích hoạt cơ chế phối hợp liên ngành.

Trung tâm sẽ lập tức yêu cầu các nhà mạng (ISP) tại Việt Nam chặn dòng truy cập (ngắt đường truyền) của trang web vi phạm ngay trong thời gian thực.

Khi các biện pháp công nghệ được áp dụng triệt để, ngăn chặn vi phạm ngay từ khi nó vừa phát sinh, dòng tiền từ quảng cáo lậu bị cắt đứt, bên vi phạm sẽ không còn đất sống.

Biện pháp mạnh mẽ và tức thì này không chỉ bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp mà còn ngay lập tức răn đe, định hình lại ý thức tuân thủ của toàn xã hội trên không gian mạng.

PV: Vâng, xin cảm ơn Luật sư.

PKT - TP

Chia sẻ:

Bài viết phổ biến

Thẻ phổ biến

Đăng ký nhận bản tin

Đăng ký nhận bản tin

Cập nhật tin tức mới nhất, sự kiện và thông tin từ thế giới sở hữu trí tuệ và bản quyền.

Bằng cách đăng ký, bạn đồng ý với điều khoản bảo mật của chúng tôi

NEW